THÔNG
TƯ LIÊN TỊCH
CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TỐI CAO - VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO -
BỘ CÔNG AN -
BỘ TƯ PHÁP SỐ 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP
NGÀY 29 THÁNG 02
NĂM 2008
HƯỚNG
DẪN VIỆC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI CÁC HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ
HỮU TRÍ TUỆ
Để việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ được đúng và
thống nhất, góp phần bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ ở Việt Nam; Tòa án nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ
Tư pháp thống nhất hướng dẫn như sau:
1. Việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với các hành vi xâm
phạm quyền tác giả và quyền liên quan
1.1. Người nào cố ý thực
hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả
hoặc quyền liên quan quy định tại Điều
28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí
tuệ thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì bị coi là "gây hậu quả nghiêm
trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác
cấu thành tội phạm thì bị truy cứư trách
nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền
tác giả" theo khoản 1 Điều 131 của Bộ
luật hình sự:
a) Với quy mô và mục đích
thương mại;
b) Gây thiệt hại vật chất
cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên
quan từ 50.000.000 đồng đến dưới
150.000.000 đồng (bao gồm thiệt hại do xâm
phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và
thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả
hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc
phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra);
c) Hàng hóa vi
phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến
dưới 150.000.000 đồng.
1.2. Người nào cố ý thực
hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả
hoặc quyền liên quan quy định tại Điều
28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí
tuệ thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì bị coi là "gây hậu quả rất nghiêm
trọng" và nếu có đủ các yếu tố khác
cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền
tác giả" theo khoản 2 Điều 131 của Bộ
luật Hình sự:
a) Với quy mô và mục đích
thương mại và đã thu
được lợi nhuận từ 30.000.000 đồng
đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại vật chất
cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên
quan từ 150.000.000 đồng đến dưới
450.000.000 đồng (bao gồm thiệt hại do xâm
phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan và
thiệt hại mà chủ thể quyền tác giả
hoặc quyền liên quan phải chi phí cho việc khắc
phục hậu quả do hành vi xâm phạm gây ra);
c) Hàng hóa vi
phạm có giá trị từ 150.000.000 đồng đến
dưới 500.000.000 đồng.
1.3. Người nào cố ý thực
hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền tác giả
hoặc quyền liên quan quy định tại Điều
28 hoặc Điều 35 của Luật Sở hữu trí
tuệ thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì bị coi là "gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng" và nếu có đủ các yếu
tố khác cấu thành tội phạm thì bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội "xâm phạm
quyền tác giả" theo khoản 2 Điều 131
của Bộ luật hình sự:
a) Với quy mô và mục đích
thương mại và đã thu
được lợi nhuận từ 100.000.000 đồng
trở lên;
b) Gây thiệt hại vật chất
cho chủ thể quyền tác giả hoặc quyền liên
quan từ 450.000.000 đồng trở lên (bao gồm
thiệt hại do xâm phạm quyền tác giả hoặc
quyền liên quan và thiệt hại mà chủ thể
quyền tác giả hoặc quyền liên quan phải chi phí
cho việc khắc phục hậu quả do hành vi xâm
phạm gây ra);
c) Hàng hóa vi
phạm có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên.
1.4. Trường hợp người
nào cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm phạm
quyền tác giả hoặc quyền liên quan quy định
tại Điều 28 hoặc Điều 35 của Luật
Sở hữu trí tuệ mà không có đủ các yếu
tố cấu thành tội phạm quy định tại
Điều 131 của Bộ luật Hình sự, nhưng có
đủ các yếu tố cấu thành tội phạm quy
định tại điều luật khác của Bộ
luật Hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội phạm tương ứng quy
định tại điều luật đó của Bộ
luật Hình sự.
2. Việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp
2.1. Người nào vì mục đích
kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối
tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy
định tại khoản 2 Điều 213 của
Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các
trường hợp sau đây thì bị coi là "gây
hậu quả nghiêm trọng" và bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội "xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp" theo khoản 1 Điều
171 của Bộ luật Hình sự:
a) Đã thu
được lợi nhuận từ 10.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại về vật
chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 50.000.000
đồng đến dưới 150.000.000 đồng;
c) Hàng hóa vi phạm
có giá trị từ 50.000.000 đồng đến
dưới 150.000.000 đồng.
2.2. Người nào vì mục đích
kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối
tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy
định tại khoản 2 Điều 213 của
Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các
trường hợp sau đây thì bị coi là "gây
hậu quả rất nghiêm trọng" và bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội "xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp" theo
khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự:
a) Đã thu
được lợi nhuận từ 50.000.000 đồng
đến dưới 150.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại về vật
chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ
150.000.000 đồng đến dưới 450.000.000
đồng;
c) Hàng hóa vi
phạm có giá trị từ 150.000.000 đồng đến
dưới 500.000.000 đồng.
2.3. Người nào vì mục đích
kinh doanh mà cố ý thực hiện một trong các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp có đối
tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu quy
định tại khoản 2 Điều 213 của
Luật Sở hữu trí tuệ và thuộc một trong các
trường hợp sau đây thì bị coi là "gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" và
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội
"xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp"
theo khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình
sự:
a) Đã thu
được lợi nhuận từ 150.000.000 đồng
trở lên;
b) Gây thiệt hại về vật
chất cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ
450.000.000 đồng trở lên;
c) Hàng hóa vi
phạm có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên.
3. Điều kiện truy cứu
trách nhiệm hình
Theo quy định tại khoản 1
Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình
sự thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi:
a) Có yêu cầu của chủ thể
quyền tác giả hoặc quyền liên quan đối
với trường hợp được hướng
dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 Thông tư này
(khoản 1 Điều 131 của BLHS);
b) Có yêu cầu của chủ sở
hữu nhãn hiệu hoặc tổ chức quản lý
chỉ dẫn địa lý đối với
trường hợp được hướng dẫn
tại tiểu mục 2.1 mục 2 Thông tư này (khoản 1
Điều 171 của BLHS).
4. Việc xử lý vật chứng
4.1. Khi xử lý vật chứng theo
quy định tại Điều 41 của Bộ luật
Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố
tụng hình sự trong các vụ án về các tội
phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
phải căn cứ vào khoản 5 Điều 202 của
Luật sở hữu trí tuệ và hướng dẫn
tại Chương IV Nghị định số
l05/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và
quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.
4.2. Trong trường hợp pháp
luật của Việt Nam hoặc điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên có quy định là vật chứng
đó phải bị tiêu hủy thì cơ quan tiến hành
tố tụng phải quyết định tiêu hủy theo
các quy định đó, cho dù vật chứng đó có
thể có giá trị sử dụng.
5. Hiệu lực thi hành
5.1. Thông tư này có hiệu lực
sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
5.2. Trong quá trình thực hiện,
nếu có vướng mắc hoặc chưa
được hướng dẫn, cần phải
giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề
nghị phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp
để có sự giải thích hoặc hướng
dẫn bổ sung kịp thời./.